EXW, FOB, DAP hay DDP? Incoterms khi xuất hàng đi Mỹ
Cập nhật
Dành cho nhà xuất khẩu và thương hiệu Việt Nam đang thỏa thuận điều kiện giao hàng với người mua Mỹ, hoặc gửi hàng của chính mình vào Amazon hay kho tại Mỹ. Bài viết giải thích từng điều kiện Incoterms 2020 phổ biến có ý nghĩa gì với một lô hàng nhập khẩu vào Mỹ, ai trả thuế tại Mỹ, ship DDP đi Mỹ thực sự đòi hỏi những gì, và điều kiện nào hợp với lô hàng đầu tiên.
Điều kiện Incoterms quyết định những gì, và không quyết định những gì
Incoterms là các điều kiện thương mại ba chữ cái do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành. Phiên bản hiện hành, Incoterms 2020, có mười một điều kiện. ICC chia thành bảy điều kiện dùng cho mọi phương thức vận tải (EXW, FCA, CPT, CIP, DAP, DPU, DDP) và bốn điều kiện chỉ dùng cho đường biển và đường thủy nội địa (FAS, FOB, CFR, CIF), như trình bày trong phần giới thiệu Incoterms 2020.
Khi bạn ghi “FOB Hải Phòng, Incoterms 2020” hay “DDP Ontario, California, Incoterms 2020” trong hợp đồng, bạn và người mua thống nhất ba việc:
- Giao hàng và rủi ro: thời điểm người bán được coi là đã giao hàng và rủi ro mất mát, hư hỏng chuyển sang người mua.
- Chi phí: bên nào trả cho từng chặng, từ xếp hàng tại nơi đi đến dỡ hàng tại nơi đến.
- Thủ tục: ai lo thông quan xuất khẩu tại Việt Nam và thông quan nhập khẩu tại Mỹ, kể cả thuế.
Điều kiện Incoterms không quyết định khi nào quyền sở hữu được chuyển giao, bạn được thanh toán ra sao và khi nào, hay luật nào được áp dụng. Hợp đồng mua bán và điều khoản thanh toán quyết định những việc đó. Incoterms cũng không ràng buộc hãng tàu, công ty giao nhận (forwarder) hay Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP). CBP làm việc với nhà nhập khẩu đứng tên (importer of record) ghi trên tờ khai, bất kể hóa đơn ghi gì.
Luôn ghi một địa điểm cụ thể sau điều kiện. “FOB Việt Nam” hay “DDP Mỹ” không đủ để tính giá một lô hàng hay giải quyết tranh chấp. “FOB Cái Mép” hoặc “DAP kho người mua, 123 Example Road, Ontario, California” thì đủ.
Các điều kiện thường dùng khi nhập khẩu vào Mỹ
Phần lớn hợp đồng nhập khẩu vào Mỹ dùng một trong tám điều kiện ở bảng dưới (CFR và CIF chung một dòng). CPT và CIP hoạt động như CFR và CIF nhưng dùng cho mọi phương thức, còn FAS hiếm gặp ngoài hàng rời, nên không có trong bảng.
| Điều kiện | Phương thức | Rủi ro chuyển sang người mua | Bên đặt cước chặng chính | Thông quan xuất khẩu | Thông quan nhập khẩu và thuế tại Mỹ |
|---|---|---|---|---|---|
| EXW (Giao tại xưởng) | Mọi phương thức | Tại cơ sở của người bán, hàng chưa được xếp lên phương tiện | Người mua | Người mua | Người mua |
| FCA (Giao cho người chuyên chở) | Mọi phương thức | Khi giao cho người chuyên chở của người mua tại địa điểm chỉ định | Người mua | Người bán | Người mua |
| FOB (Giao lên tàu) | Đường biển và đường thủy nội địa | Khi hàng đã ở trên tàu tại cảng xếp hàng | Người mua | Người bán | Người mua |
| CFR / CIF | Đường biển và đường thủy nội địa | Khi hàng đã ở trên tàu tại cảng xếp hàng | Người bán (CIF có thêm bảo hiểm) | Người bán | Người mua |
| DAP (Giao tại nơi đến) | Mọi phương thức | Tại địa điểm chỉ định, hàng sẵn sàng để dỡ | Người bán | Người bán | Người mua |
| DPU (Giao tại nơi đến đã dỡ xuống) | Mọi phương thức | Tại địa điểm chỉ định, sau khi đã dỡ hàng | Người bán | Người bán | Người mua |
| DDP (Giao hàng đã nộp thuế) | Mọi phương thức | Tại địa điểm chỉ định, hàng sẵn sàng để dỡ | Người bán | Người bán | Người bán, kể cả thuế |
Có hai chi tiết hay gây nhầm lẫn. Theo CFR và CIF, người bán trả cước đến cảng Mỹ nhưng rủi ro chuyển sang người mua ngay tại cảng đi, nên một container bị mất trên biển là vấn đề của người mua và người mua phải đòi bồi thường bảo hiểm. Ngoài ra, theo CIF người bán chỉ phải mua mức bảo hiểm tối thiểu (Institute Cargo Clauses C), còn CIP yêu cầu mức cao hơn là Institute Cargo Clauses A, theo tóm tắt các thay đổi năm 2020 của ICC. Nếu bạn mua theo CIF, hãy kiểm tra mức bảo hiểm đó có đủ không, hoặc tự mua bảo hiểm cho hàng.
DPU thay thế điều kiện DAT cũ từ năm 2020. Khác biệt với DAP rất đơn giản: theo DAP người bán không dỡ hàng tại nơi đến, theo DPU thì người bán dỡ. Với một container giao đến kho tại Mỹ, hãy thống nhất trước ai trả phí dỡ hàng, vì kho sẽ tính phí cho một bên nào đó.
EXW, FOB hay FCA: lựa chọn ở phía Việt Nam
Khi người mua Mỹ tự đặt vận chuyển, lựa chọn thường nằm giữa EXW, FOB và FCA. Cả ba đều để chặng vận chuyển chính, thủ tục nhập khẩu và thuế tại Mỹ cho người mua. Chúng khác nhau ở phía nơi đi.
EXW
Người bán để hàng sẵn tại cơ sở của mình và không làm gì thêm: không xếp hàng lên xe và không làm thủ tục xuất khẩu. Nghe thì đơn giản, nhưng người mua, thường ở nước khác, phải chịu trách nhiệm về tờ khai xuất khẩu tại nước người bán. Ở nhiều nước chỉ doanh nghiệp đăng ký trong nước mới nộp được tờ khai, và tên người xuất khẩu trên hồ sơ xuất khẩu phải khớp. Nếu người mua không làm được việc này, EXW tạo ra một khoảng trống giấy tờ ngay từ đầu.
Tại Việt Nam, tờ khai xuất khẩu được nộp điện tử qua hệ thống VNACCS/VCIS của Cục Hải quan (thuộc Bộ Tài chính). Từ ngày 1 tháng 2 năm 2026, theo Thông tư 121/2025/TT-BTC, tổ chức và cá nhân khai hải quan điện tử phải đăng ký bằng tài khoản định danh điện tử VNeID. Một người mua Mỹ không có pháp nhân hay đại diện tại Việt Nam thường khó tự đứng tên làm việc này, nên với một xưởng ở Đồng Nai hay Bình Dương cũ (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh), giá EXW thường kéo theo câu hỏi: rốt cuộc ai sẽ mở tờ khai xuất khẩu?
FOB
Người bán làm thủ tục xuất khẩu và giao hàng lên con tàu do người mua đặt. FOB là điều kiện cho đường biển và đường thủy nội địa, phù hợp với hàng rời hoặc hàng bách hóa được xếp thẳng lên tàu. Với hàng container, người bán thường giao container cho hãng tàu tại bãi container hoặc kho hàng lẻ vài ngày trước khi xếp lên tàu, chẳng hạn tại một cảng ở Cái Mép, và từ lúc đó không còn kiểm soát được container, nhưng theo FOB vẫn chịu rủi ro cho đến khi container được xếp lên tàu.
FCA
Người bán làm thủ tục xuất khẩu và giao hàng cho người chuyên chở của người mua tại một địa điểm chỉ định: kho của chính mình (hàng được xếp lên xe của người mua), kho hàng lẻ hoặc bãi container. FCA dùng được cho mọi phương thức, kể cả hàng không và đường bộ. Incoterms 2020 còn cho phép hai bên thỏa thuận để người mua yêu cầu người chuyên chở cấp vận đơn đã xếp hàng (on-board) cho người bán, rất hữu ích khi ngân hàng yêu cầu loại vận đơn này theo thư tín dụng (L/C) (ICC).
Trên thực tế: với hàng container đường biển, hàng không hay chuyển phát nhanh, FCA thường phù hợp hơn FOB, và FCA tại cơ sở người bán thường phù hợp hơn EXW khi người mua không thể làm thủ tục xuất khẩu tại Việt Nam.
Ship DDP đi Mỹ cần có nhà nhập khẩu đứng tên
Theo DDP, người bán lo mọi thứ đến địa điểm chỉ định tại Mỹ, kể cả thông quan nhập khẩu, thuế và các khoản phí nhập khẩu tại Mỹ. Với người bán ở Việt Nam, điều đó có nghĩa là phải có một bên làm nhà nhập khẩu đứng tên (IOR) tại Mỹ cho hàng của bạn: bên khai báo hàng với CBP, chịu trách nhiệm về mã phân loại, trị giá và xuất xứ, và là bên nợ thuế.
Một báo giá DDP chỉ đáng tin khi trả lời được một câu hỏi: ai là nhà nhập khẩu đứng tên? Nếu người bán chào giá DDP nhưng lại muốn công ty của người mua đứng tên nhà nhập khẩu trên tờ khai, thì lô hàng thực chất là DAP có hoàn lại tiền thuế, và người mua vẫn gánh trách nhiệm hải quan mà họ tưởng đã tránh được.
Nhà nhập khẩu đứng tên không cư trú theo quy định hiện hành
Doanh nghiệp không có pháp nhân tại Mỹ có thể tự làm nhà nhập khẩu đứng tên. Theo 19 CFR 141.18, doanh nghiệp không cư trú chỉ được nhập khẩu hàng để tiêu dùng nếu có đại diện thường trú được ủy quyền nhận giấy tờ tố tụng tại bang có cảng nhập, và nộp bảo lãnh hải quan (customs bond, mẫu CBP Form 301) do một công ty bảo lãnh thường trú tại Mỹ bảo đảm. Bản thân tờ khai thường do một đại lý hải quan (customs broker) được cấp phép nộp thay mặt nhà nhập khẩu đứng tên.
Nhà nhập khẩu cũng cần một mã số nhà nhập khẩu đăng ký với CBP qua mẫu Form 5106. Trong thông báo ngày 19 tháng 8 năm 2026, CBP cho biết từ ngày 18 tháng 9 năm 2026 cơ quan này có thể hủy ngay mã số nhà nhập khẩu nếu dữ liệu Form 5106 không chính xác hoặc không đầy đủ. Địa chỉ phải là nơi nhà nhập khẩu thực sự hoạt động, không được là địa chỉ của đại diện đăng ký, đại lý hải quan, công ty giao nhận hay hộp thư bưu điện, và đại lý hải quan phải có giấy ủy quyền (POA) ký trực tiếp với nhà nhập khẩu.
Sắc lệnh 14411 thay đổi những gì
Sắc lệnh 14411 về tăng cường thực thi hải quan, ký ngày 3 tháng 6 năm 2026, chỉ đạo Bộ An ninh Nội địa (DHS) và CBP phân biệt nhà nhập khẩu đứng tên tại Mỹ với nhà nhập khẩu đứng tên nước ngoài và siết chặt quy định với nhóm sau. Trong đó, sắc lệnh chỉ đạo CBP:
- cấm nhà nhập khẩu đứng tên nước ngoài nộp tờ khai không chính thức (informal entry);
- với tờ khai chính thức, yêu cầu nhà nhập khẩu đứng tên nước ngoài không dựa vào bảo lãnh liên tục trừ khi CBP cho phép, và phải được xác nhận trong chương trình CTPAT (nếu đủ điều kiện) hoặc dùng một đại lý hải quan được cấp phép đã được xác nhận CTPAT;
- trong vòng 180 ngày, yêu cầu mọi nhà nhập khẩu đứng tên, không chỉ bên nước ngoài, duy trì một mức tối thiểu về tài sản hữu hình tại Mỹ, bảo lãnh, hoặc cả hai.
Tính đến tháng 10 năm 2026, các hạn chế với nhà nhập khẩu đứng tên nước ngoài này mới được chỉ đạo, chưa có hiệu lực; hãy kiểm tra quy định hiện hành trước khi chào giá hoặc chấp nhận điều kiện DDP. Đến nay CBP mới thực hiện một phần sắc lệnh, chẳng hạn thông báo về dữ liệu nhà nhập khẩu nêu trên.
Với người bán ở Việt Nam, tất cả những điều này khiến DDP khó hơn vẻ ngoài của nó trên bảng giá. Abanro lo thủ tục thông quan tại Mỹ cho bạn, trong cùng lô hàng, và trong các trường hợp đủ điều kiện, Abanro có thể đóng vai trò nhà nhập khẩu đứng tên. Một lô hàng có đủ điều kiện hay không phụ thuộc vào sản phẩm, hồ sơ và quy định có hiệu lực khi hàng đến, vì vậy hãy nêu vấn đề này ngay ở bước báo giá, đừng đợi đến khi hàng đã lên tàu. Để xem toàn bộ trình tự các bước, hãy đọc thủ tục thông quan tại Mỹ cho doanh nghiệp nước ngoài.
Ai trả thuế, phí và chi phí tại nơi đến ở Mỹ
Với mọi điều kiện trừ DDP, người mua trả thuế và phí nhập khẩu tại Mỹ. Theo DDP thì người bán trả. Phần này rõ ràng. Tranh cãi bắt đầu ở các khoản nằm giữa.
- Thuế nhập khẩu: được xác định theo mã phân loại của sản phẩm trong Biểu thuế quan hài hòa của Mỹ (HTS), xuất xứ, và các loại thuế bổ sung đang có hiệu lực khi hàng nhập khẩu (tính đến tháng 10 năm 2026, thuế theo Mục 301 và Mục 232 áp dụng cho nhiều mặt hàng, vì vậy hãy kiểm tra HTS và hướng dẫn hiện hành của CBP cho sản phẩm của bạn). Thuế do nhà nhập khẩu đứng tên nộp, nên bên đứng tên phải chuẩn bị sẵn tiền trước khi hàng được giải phóng.
- Phí của CBP: như phí xử lý hàng hóa (MPF) và, với hàng đường biển, phí bảo trì cảng biển (HMF). Các khoản này đi cùng với thuế.
- Phí cảng và phí bến bãi tại nơi đến: theo CFR, CIF, DAP và DPU, hợp đồng vận chuyển của người bán có thể gồm hoặc không gồm phí xếp dỡ tại cảng đến. Khoản nào không được bao gồm thường rơi vào người mua. Hãy yêu cầu người bán liệt kê bằng văn bản những gì giá cước của họ đã bao gồm.
- Kiểm tra và tạm giữ: nếu CBP hay một cơ quan khác kiểm tra hàng, trạm kiểm tra và các bên vận chuyển hàng sẽ tính phí cho phía nhập khẩu. Theo DDP, đó là người bán.
- Lưu kho, demurrage và detention: phát sinh khi container hoặc hàng không được lấy hoặc trả đúng hạn. Bên nào kiểm soát lô hàng vào lúc đó sẽ chịu, vì vậy địa điểm chỉ định rất quan trọng. Hướng dẫn về drayage, demurrage và detention tại Los Angeles và Long Beach giải thích các khoản phí này.
Hàng xuất xứ Việt Nam: thuế bổ sung 12,5% và điều khoản hợp đồng
Từ 0 giờ 01 phút (giờ miền Đông Mỹ) ngày 24 tháng 7 năm 2026, hàng xuất xứ Việt Nam chịu thuế bổ sung 12,5% theo Mục 301, cộng thêm vào thuế suất thông thường (MFN) trong HTS, trừ các sản phẩm thuộc phụ lục miễn trừ và hàng đã chịu thuế theo Mục 232. Bộ Công Thương ước tính sau các miễn trừ, mức thuế này áp dụng cho khoảng 37% kim ngạch xuất khẩu hiện tại của Việt Nam sang Mỹ (ước tính công bố ngày 29 tháng 7 năm 2026). Hãy kiểm tra mã HTS của bạn trong thông báo của USTR và phụ lục đi kèm.
Điều này làm cho câu hỏi “ai trả thuế” trở thành câu hỏi về giá. Trung tâm WTO và Hội nhập của VCCI khuyến nghị doanh nghiệp tính tác động theo từng dòng HTS, rà soát lại trong hợp đồng bên nào chịu thuế, các điều khoản điều chỉnh giá, điều kiện giao hàng và hồ sơ xuất xứ, thay vì giảm giá đồng loạt 12,5%. Nếu bạn chuyển từ FOB sang DDP, toàn bộ khoản thuế bổ sung này chuyển sang bạn.
Để so sánh các báo giá theo những điều kiện khác nhau, hãy đưa mọi chi phí về cùng một cơ sở: giao đến cùng một địa chỉ tại Mỹ, đã nộp thuế. Hướng dẫn về chi phí nhập khẩu hàng hóa vào Mỹ liệt kê từng thành phần.
Đã thỏa thuận DAP hoặc DDP và cần lo phần việc tại Mỹ? Chúng tôi báo giá lấy hàng, vận chuyển đường biển hoặc hàng không và thông quan tại Mỹ như một lô hàng Door to Door.
Yêu cầu báo giá Door to DoorNhững sai lầm thường gặp với Incoterms khi xuất hàng đi Mỹ
- Dùng EXW khi người mua không thể mở tờ khai xuất khẩu. Hàng nằm ở xưởng hoặc cảng đi trong khi các bên tìm xem ai có thể khai báo. Hãy dùng FCA tại cơ sở người bán.
- Dùng FOB cho hàng không, đường bộ hoặc chuyển phát nhanh. FOB là điều kiện cho đường biển và đường thủy nội địa. Với các phương thức khác, hãy dùng FCA (người mua lo vận chuyển) hoặc CPT, CIP, DAP hay DDP (người bán lo vận chuyển).
- Báo giá “DDP” nhưng không gồm thuế. Một số báo giá ghi DDP nhưng chú thích “thuế và phí tính theo thực tế” hoặc “chưa gồm phí hải quan”. Đó không phải DDP. Hãy yêu cầu xác nhận bằng văn bản những gì được bao gồm và ai sẽ là nhà nhập khẩu đứng tên.
- Không ghi địa điểm chỉ định, hoặc ghi sai. “DAP Los Angeles” có thể là cảng, cũng có thể là một kho cách đó 60 dặm. Hãy ghi đầy đủ địa chỉ giao hàng.
- Cho rằng điều kiện Incoterms quyết định ISF. Importer Security Filing cho hàng đường biển phải nộp chậm nhất 24 giờ trước khi xếp hàng tại cảng nước ngoài theo 19 CFR 149.2, bất kể điều kiện nào. Theo FOB hoặc FCA, phía người mua nộp nhưng cần dữ liệu từ người bán.
- Quên thống nhất ai trả phí dỡ hàng. Theo DAP người mua dỡ, theo DPU người bán dỡ. Một container xếp rời (không pallet) có thể mất nhiều giờ để dỡ.
- Nhầm điều kiện giá với điều kiện giao hàng. Bảng giá ghi “FOB nhà máy” không phải là một điều kiện Incoterms hợp lệ. Hãy báo giá và ký hợp đồng với cùng một điều kiện và địa điểm.
Điều kiện nào hợp với lô hàng đầu tiên vào Amazon hoặc cho người mua Mỹ
Điều kiện phù hợp phụ thuộc ít vào sở thích mà vào hai câu hỏi: hàng thuộc về ai khi đến nơi, và ai có thể làm nhà nhập khẩu đứng tên tại Mỹ.
Gửi hàng của chính bạn vào Amazon hoặc kho tại Mỹ
Nếu bạn là người bán và hàng vẫn thuộc về bạn sau khi đến nơi, thì không có người mua Mỹ nào để chia trách nhiệm. Điều kiện Incoterms chỉ có ý nghĩa giữa bạn và nhà cung cấp của bạn, hoặc giữa công ty Việt Nam và một công ty liên kết tại Mỹ. Điều quan trọng về hải quan là ai làm nhà nhập khẩu đứng tên và ai trả thuế. Trung tâm xử lý đơn hàng của Amazon chỉ là một địa chỉ giao hàng, nên vẫn phải có một bên khác thông quan hàng trước. Nhiều người bán gửi hàng đến một đối tác nhận hàng tại Mỹ trước, nơi hàng được kiểm tra và chuẩn bị trước khi chuyển tiếp đến Amazon. Hướng dẫn về nhập khẩu và bán trên Amazon Mỹ không cần công ty Mỹ và gửi hàng vào Amazon FBA từ nước ngoài trình bày tuyến đường này.
Bán cho nhà nhập khẩu hoặc nhà phân phối tại Mỹ
Nhà nhập khẩu Mỹ có kinh nghiệm thường thích FCA hoặc FOB, vì họ đã có sẵn forwarder, bảo lãnh và đại lý hải quan làm việc cho mình. Hãy chào giá FCA tại kho của bạn hoặc tại một cảng chỉ định như Cái Mép hay Hải Phòng cho hàng container, và xác nhận ai nộp ISF.
Bán cho nhà bán lẻ, cửa hàng hoặc người mua lần đầu tại Mỹ
Người mua Mỹ quy mô nhỏ thường không muốn tự nhập khẩu. Họ muốn giá giao tận nơi. DAP với người mua làm nhà nhập khẩu đứng tên là phương án giao tận nơi đơn giản nhất khi người mua nhận được phần nhập khẩu. DDP là lời chào hấp dẫn nhất, nhưng chỉ nên chào khi bạn đã biết ai sẽ làm nhà nhập khẩu đứng tên và đã có ước tính thuế chắc chắn cho sản phẩm.
Ví dụ minh họa: một xưởng đồ gỗ ở Bình Dương cũ (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh) vẫn bán FOB Cái Mép cho một nhà nhập khẩu Mỹ, nay được một chuỗi cửa hàng nội thất nhỏ hỏi giá DDP. Trước khi chào giá, xưởng cần biết ai sẽ đứng tên nhập khẩu, mã HTS của từng mặt hàng chịu thuế gì (đồ gỗ bọc nệm có thể thuộc diện thuế Mục 232 thay vì Mục 301), cần khai báo theo Đạo luật Lacey hay không, và ai trả phí dỡ container tại kho người mua.
| Tình huống | Thường phù hợp | Cần kiểm tra trước khi đồng ý |
|---|---|---|
| Nhà nhập khẩu Mỹ có forwarder riêng | FCA (hoặc FOB cho hàng đường biển không đóng container) | Địa điểm chỉ định, dữ liệu ISF, chứng từ xuất khẩu |
| Người mua Mỹ muốn giá giao tận nơi và có thể tự nhập khẩu | DAP hoặc DPU | Ai trả phí tại nơi đến và phí dỡ hàng |
| Người mua Mỹ hoàn toàn không muốn nhập khẩu | DDP | Ai là nhà nhập khẩu đứng tên, bảo lãnh, ước tính thuế |
| Hàng của chính bạn vào Amazon hoặc kho tại Mỹ | Không có người mua tại Mỹ: tập trung vào nhà nhập khẩu đứng tên | Nhà nhập khẩu đứng tên, thuế, chuẩn bị hàng và nhận hàng tại Mỹ |
Dịch vụ Door to Door liên quan thế nào đến điều kiện Incoterms
Điều kiện Incoterms là thỏa thuận giữa người bán và người mua. Dịch vụ logistics Door to Door là một thỏa thuận riêng giữa bên đặt dịch vụ và nhà cung cấp logistics. Hai thỏa thuận nên khớp nhau, nhưng không phải là một.
- EXW hoặc FCA: người mua đặt dịch vụ. Hàng được lấy tại kho người bán, và phía người mua lo phần nhập khẩu vào Mỹ.
- CFR, CIF, DAP hoặc DPU: người bán đặt vận chuyển đến cảng hoặc địa điểm chỉ định. Việc nhập khẩu, thuế và mọi chặng sau địa điểm chỉ định thuộc về người mua, nên cả hai bên cần biết phần đặt chỗ của người bán dừng ở đâu.
- DDP: người bán đặt toàn bộ chuỗi, kể cả thông quan tại Mỹ, và phải có sẵn nhà nhập khẩu đứng tên.
Dịch vụ lấy hàng và vận chuyển quốc tế của Abanro gồm lấy hàng tại kho của bạn ở Việt Nam, vận chuyển đường biển hoặc hàng không, thông quan tại Mỹ và giao hàng từ cơ sở của chúng tôi tại Quận Cam (Orange County), California, gần cảng Los Angeles và Long Beach. Hàng có thể qua bước nhận hàng và kiểm tra trước khi chuyển đến người mua hoặc Amazon. Khi yêu cầu báo giá, hãy cho chúng tôi biết điều kiện Incoterms và địa điểm chỉ định bạn đã thỏa thuận, để phạm vi lô hàng khớp với việc ai trả khoản nào. Thuế hải quan, thuế và phí của cơ quan nhà nước được tính riêng theo chi phí thực tế cho bên chịu trách nhiệm.
Nếu hàng đóng container, quyết định tiếp theo thường là đi nguyên container hay đi ghép: xem FCL hay LCL đến bờ Tây nước Mỹ. Nếu chỉ có vài thùng, hãy đọc cách gửi 100 sản phẩm đầu tiên sang Mỹ mà không cần container.
Hướng dẫn này là thông tin chung, không phải tư vấn pháp lý hay hải quan. Điều kiện Incoterms do ICC ban hành, và quy định hải quan về nhà nhập khẩu đứng tên đang thay đổi trong năm 2026, vì vậy hãy xác nhận điều kiện và yêu cầu hiện hành cho lô hàng của bạn trước khi đồng ý.
Nguồn tham khảo
- Incoterms® 2020: các thay đổi chính (FCA, DPU, bảo hiểm theo CIP và CIF), Phòng Thương mại Quốc tế (ICC)
- Giới thiệu Incoterms® 2020: nhóm điều kiện cho mọi phương thức vận tải và nhóm điều kiện cho đường biển, đường thủy nội địa, Phòng Thương mại Quốc tế (ICC)
- 19 CFR 141.18: Nhập khẩu bởi doanh nghiệp không cư trú tại Mỹ, Viện Thông tin Pháp lý, Trường Luật Cornell (Bộ luật Quy định Liên bang)
- Sắc lệnh 14411 về tăng cường thực thi hải quan (91 FR 35125, ngày 10 tháng 6 năm 2026), Công báo Liên bang Hoa Kỳ (Federal Register)
- Thông báo về độ chính xác của dữ liệu nhà nhập khẩu đứng tên gửi CBP (ngày 19 tháng 8 năm 2026), Cơ quan Hải quan và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ (CBP), Công báo Liên bang
- 19 CFR 149.2: Yêu cầu và thời hạn nộp Importer Security Filing, Bộ luật Quy định Liên bang điện tử (eCFR)
- Việt Nam ứng phó ra sao trước chính sách thuế quan mới của Hoa Kỳ?, Trung tâm WTO và Hội nhập, VCCI (theo Tạp chí Kinh tế - Tài chính)
- Thông tư 121/2025/TT-BTC: nhiều quy định mới có lợi cho cả hải quan và doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
- Đại diện Thương mại Hoa Kỳ công bố kết luận cuối cùng điều tra theo Mục 301 với 60 nền kinh tế, Bộ Công Thương
- Đạo luật Lacey: khai báo sản phẩm thực vật, Cơ quan Kiểm dịch Động thực vật, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA APHIS)
Ngày kiểm tra nguồn